Quay lại Dân trí
Dân Sinh
  1. Diễn đàn Dân sinh

Phòng ngừa tai nạn lao động do căng thẳng liên quan đến công việc

 
Nhân viên cần được chăm sóc sức khỏe thể chất cũng như tinh thần định kỳ. Ảnh CTV
 
Đâu là nguyên nhân gây căng thẳng, stress? 
 
Theo ILO, một nghiên cứu từ Nhật Bản cho thấy, 32,4% công nhân báo cáo phải chịu đựng sự lo lắng và căng thẳng từ công việc trong năm trước. Tại Chile, dữ liệu năm 2011 cho thấy 27,9% người lao động và 13,8% người sử dụng lao động báo cáo rằng căng thẳng và trầm cảm đã có mặt trong các doanh nghiệp của họ. Con số tương tự đã được tìm thấy trên thực tế ở mọi quốc gia mà ILO nghiên cứu. 
 
Theo báo cáo do cơ quan dịch vụ y tế của Anh mới công bố, khoảng 15% số lao động ở Anh đang gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của sức khỏe tâm thần đối với người lao động, nhưng một số nghiên cứu đã chỉ ra có sự xuất hiện trầm cảm và lo âu ở một số ngành nghề. Ví dụ, nghiên cứu của Trần Viết Nghị, Lã Thị Bưởi (2002 - 2003) trên 944 công nhân ngành nghề chế biến thủy sản đông lạnh ở Quảng Ninh và Cà Mau cho thấy tỷ lệ lo âu là 1,7% và trầm cảm là 0,7%. Nghiên cứu ở 1.489 công nhân đường sắt tuổi từ 22 - 55 (chủ yếu là lái tàu và nhân viên làm việc trên tàu tại các ga Sài Gòn, Yên Viên, Yên Bái, Lào Cai), kết quả lo âu chiếm 0,8%. Cũng theo Trần Viết Nghị và Lã Thị Bưởi, nghiên cứu ở 81 công nhân làm việc trực tiếp tại Nhà máy Thủy điện Hòa Bình có điều kiện làm việc khắc nghiệt bất lợi như bị tiếng ồn, độ ẩm cao, cách biệt với thiên nhiên, đòi hỏi có trách nhiệm cao, không được phép mắc sai sót, kết quả cho thấy 2,5% trầm cảm; 11,1% lo âu. 
 
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thọ, Đỗ Minh Tiến và cộng sự trên 700 công nhân tại Vietsovpetro (2006 - 2007) cho thấy số công nhân ngoài khơi có triệu chứng lo âu - trầm cảm cao hơn trong bờ. Nghiên cứu của Trần Văn Liêm và cộng sự trên hơn 200 đối tượng là công nhân nữ trên địa bàn TP. Biên Hòa - Đồng Nai cho thấy tỷ lệ công nhân nữ mắc chứng trầm cảm và lo âu cao hơn so với nhóm cộng đồng bình thường. Các yếu tố như điều kiện lương thấp, điều kiện sống, tiếng ồn, chế độ ca kíp, thiếu thốn tình cảm, là những nguy cơ có mối quan hệ với các rối loạn tâm thần, nhất là trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ, suy nhược ở công nhân nữ. 
 
Theo các chuyên gia, một số nguyên nhân có nhiều tiềm năng gây căng thẳng trong công việc bao gồm: quá tải, thiếu sự chỉ dẫn rõ ràng, các hạn định thời gian không phù hợp thực tế, thiếu khả năng quyết định, công việc không an toàn, làm việc trong điều kiện bị cách ly cô lập, khi sự sắp xếp chăm sóc con cái không ổn… Một số hoàn cảnh khác cũng gây căng thẳng cao như phân biệt đối xử và tình trạng quấy rối tình dục… Bên cạnh đó, nỗi lo thất nghiệp, giảm động lực của nhân viên cũng là nguyên nhân gây căng thẳng. 
 
Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo: Các triệu chứng trầm cảm và rối loạn lo âu khiến nền kinh tế thế giới mỗi năm tổn thất 1.000 tỷ USD. Mỗi 1 đồng USD đầu tư vào việc tăng cường điều trị sức khỏe tâm thần cho người lao động sẽ đem lại 4 USD lợi nhuận vì bệnh nhân hồi phục có thể đi làm trở lại.
 
 Cần tạo sự thoải mái trong khi làm việc cho nhân viên. Ảnh Dương Oanh. 
 
Tập trung vào chiến lược phòng ngừa
 
Ngày nay, người lao động đang phải đối mặt với những thay đổi trong công việc và quan hệ lao động, phải chịu áp lực lớn hơn để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện đại. Các vấn đề sức khỏe tâm thần trên công việc có thể gây ra tình trạng bê trễ, vắng mặt trong làm việc, sức khỏe yếu kém, giảm năng suất lao động, giảm khả năng quyết định và lên kế hoạch làm việc, tăng tỷ lệ tai nạn và thương tích trong làm việc; ảnh hưởng lên nhóm làm việc gây giảm động cơ và sự gắn bó với công việc và dễ phát sinh tình trạng kiệt sức, gây xáo trộn thành phần nhân sự. Đồng thời, dễ phát sinh các căng thẳng và xung đột giữa những đồng nghiệp và gia tăng các vấn đề kỷ luật tại nơi làm việc…
 
Để bảo vệ sức khỏe tâm thần của người lao động phải tập trung vào các chiến lược phòng ngừa. Đánh giá và quản lý rủi ro tâm lý xã hội tại nguồn gốc, giúp tạo ra các biện pháp tập thể và cá nhân cần thiết để cải thiện chất lượng cuộc sống, điều kiện làm việc cho phụ nữ và nam giới. Đây cũng là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2019 với chủ đề “Tăng cường đánh giá, quản lý các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc”. 
 
Các doanh nghiệp nên cung cấp cho nhân viên điều kiện làm việc tốt và đảm bảo cho họ có sự cân bằng trong công việc. Ông Karl Simons, cán bộ phụ trách chăm sóc sức khỏe tại Công ty Thames Water (Anh) cho biết: "Tạo sự thoải mái trong khi làm việc là điều rất quan trọng để người lao động phát huy hết các giá trị của họ trong công việc. Do vậy, phải làm sao tạo điều kiện tốt cho người lao động".
 
Ngoài ra, một hệ thống quản lý an toàn lao động toàn diện sẽ đảm bảo các biện pháp phòng ngừa được cải thiện và kết hợp các biện pháp tăng cường sức khỏe. Điều này nên bao gồm các rủi ro tâm lý xã hội trong các biện pháp quản lý và đánh giá rủi ro nhằm quản lý hiệu quả tác động của chúng. Sự tham gia của công nhân trong quá trình này là rất quan trọng. 
 
Kinh nghiệm của ILO chỉ ra, chính sách nhân sự đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các mối quan hệ làm việc dựa trên niềm tin, tính xác thực và quan hệ đối tác. Cần trao quyền để nhân viên tham gia vào các quyết định và nâng cao khả năng làm việc tự lực của họ; Cần giúp nhân viên quân bình giữa công việc và đời sống bên ngoài công việc, nhờ đó cơ quan cũng thu lợi được nhờ sự cải thiện chất lượng làm việc của nhân viên. Đồng thời, tạo cơ hội để nhân viên có thể phát triển nghề nghiệp, nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực làm việc của họ. 
 
Đặc biệt, nhân viên cần được chăm sóc sức khỏe, thể chất cũng như tinh thần, cần được phòng ngừa, đánh giá và điều trị các nguy cơ cũng như các vấn đề về sức khỏe. Cơ quan cũng cần phải giúp cho nhân viên biết cách làm giảm thiểu những yếu tố nguy cơ cho sức khỏe thể chất cũng như tinh thần, đồng thời giúp họ quản lý stress một cách hiệu quả. Thông qua việc đầu tư chăm sóc sức khỏe và an toàn cho nhân viên, cơ quan cũng nhận được những lợi ích do năng suất lao động tăng, và giảm thiểu các chi phí từ việc chăm sóc y tế, bê trễ công việc hoặc tai nạn lao động…
 Các nguy cơ đối với sức khoẻ tâm thần bao gồm:
• Chính sách về sức khỏe và an toàn không đầy đủ;
• Truyền thông và quản lý kém;
• Hạn chế tham gia vào quá trình ra quyết định hoặc khu vực làm việc không thoải mái;
• Mức hỗ trợ thấp cho người lao động;
• Thời gian làm việc không cố định;
• Nhiệm vụ không rõ ràng.

Vân Nhi/TC GĐ&TE

Tin liên quan