Quay lại Dân trí
Dân Sinh
  1. Diễn đàn Dân sinh

Vọng phu một mình

“Cứ mỗi lần nghe ở đâu có tin “liệt sĩ” trở về gia đình sau vài chục năm là bá lại thót tim. Ước sao đời bá cũng có may mắn như vậy”. Bà Trần Thị Tiếp, ở thôn Kiểu, xã Bích Sơn (huyện Việt Yên, Bắc Giang) đã tâm sự như thế sau 43 năm đằng đẵng chờ chồng. Nỗi thấp thỏm chưa bao giờ nguôi, bởi bà mãi tin chồng mình chưa mất...

Nỗi niềm người vợ trẻ

Chẳng hiểu sao, ngồi nghe bà Tiếp tâm sự về chồng, liệt sĩ Tống Ngọc Lưu và những ngày bà chờ đợi, tôi thấy xốn xang. Suốt ngần ấy năm, rất nhiều người đã nguôi ngoai nỗi đau, thì gần 70 tuổi, mái tóc nhuốm bạc và đôi mắt răn reo, bà Tiếp vẫn bồn chồn nhớ. Lý giải về điều đó, bà cho hay: “Người ta cũng là vợ liệt sĩ như bá (bác), nhưng họ còn có con, có cháu, đằng này bá chỉ có một mình. Bá cũng yêu chồng quá, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chồng thôi”.

 Bà Tiếp xem lại kỷ vật của liệt sĩ Tống Ngọc Lưu. Ảnh: Thục Miên

Cứ nhắc đến ông Lưu, bà lại khóc. Qua câu chuyện, tôi biết ông Lưu hơn bà 7 tuổi, người thôn Văn Xã, chỉ cách thôn Kiểu quãng đồng. Trước khi đi bộ đội, ông được gia đình “ngắm” cho cô gái tốt nết đẹp người Trần Thị Tiếp. Đám cưới bình dị tràn đầy hạnh phúc của họ diễn ra vào giữa năm 1964. Sau ngày cưới, ông Lưu nhận nhiệm vụ mới trong Đoàn đặc công K10, phải vào chiến trường gấp. Đời sống vợ chồng vỏn vẹn một tháng thì chia xa. Hôm đó, tiễn chồng ra ga bằng xe đạp, giữa đường thủng lốp, bà nghĩ điềm không lành. Lúc chồng chuẩn bị khởi hành, nước mắt lã chã rơi, bà nài nỉ: “Hay là để em đi cùng với anh, chứ vợ chồng mình sống thiếu nhau làm sao được...”.

Ông Lưu bảo vợ: “Thôi, trong đó bom đạn, em theo anh làm sao. Em cứ an tâm về đi, anh hứa, bao giờ đất nước thống nhất sẽ trở về”. Hai chân, hai tay người vợ cứ líu ríu, quyến luyến, và phải đến khi ông đi khuất một đoạn dài bà mới quay về. Nuốt nước mắt, người vợ trẻ tự nhủ sẽ là “hậu phương” vững chắc cho chồng. Rồi bà biết mình có tin vui. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, đứa con trong bụng tròn sáu tháng, với hy vọng sẽ là món quà cho chồng, đã bị sẩy trong một lần đi làm đồng.

Đau đớn vì mất con, nhưng bà vẫn gắng gượng, tích cực sản xuất, chăm sóc bố mẹ chồng, chờ chồng trở về. Niềm an ủi lớn nhất của bà lúc đó là những lá thư của ông Lưu từ chiến trường gửi về. Bà Tiếp cho biết, chồng bà là người được học hành tử tế, nên viết thư rất “mùi mẫn” và nhiều đoạn đánh đúng vào tâm lý vợ. Những lá thư cứ thưa dần, rồi không bao giờ về nữa. Mãi đến năm 1971, bà và gia đình điếng người nhận giấy báo tử của liệt sĩ Lưu, trong đó viết ông hy sinh từ năm 1969. Mẹ chồng bà Tiếp vô cùng thương con trai, cũng hiểu tâm trạng của con dâu trẻ nên động viên con đi bước nữa, nhưng bà Tiếp không chịu. Bà tự nhủ lòng: “Dù thế nào, anh ơi, em mãi chờ anh.”

“Giá mà em hóa đá”

 Thương con gái, bố mẹ đẻ tha thiết xin cho bà Tiếp về thôn Kiểu ở để tiện động viên đi bước nữa. Nhưng bà Tiếp vẫn một niềm nghĩ, chồng mình chưa chết bởi không thấy xác, và cũng chẳng dám nghĩ đến ai khác. Ngày đó trong làng, ngoài xã nhiều người hỏi han, nhưng “người xinh đáo để” ấy vẫn chịu một mình.

Năm 1981, có một cô gái ở Quế Võ (Bắc Ninh) bị nhỡ, ngược lên Việt Yên nhờ đỡ đẻ, muốn cho người khác con. Bà Tiếp được giới thiệu, và đã xin đứa con gái, lúc đó chưa đầy 1,5 kg về nuôi. Hai bên gia đình thấy đứa trẻ yếu, xui con đem trả, bà Tiếp tỏ ra quyết tâm, dù vất vả đến thế nào cũng nuôi cho bằng được vì “thèm người”. Bà đặt tên con theo họ của mình là Trần Thị Tam. Tam trong chữ “Tam tòng” để nhắc mình vững lòng đợi. Bố mẹ đẻ già, mất đi, một mình bà nuôi con, nhưng cố dành dụm để tiền xây một ngôi nhà cấp bốn “cho đỡ tủi”. Bà kể: “Bá đi làm đồng cũng mang con đi theo, có khi gánh phân ra đồng bón, một bên là phân, còn bên kia là con gái. Nhìn thấy người ta đi làm có vợ có chồng, đỡ đần nhau, việc trôi trảy lắm. Bá thì thui thủi, tủi không cầm được nước mắt”.

“Vọng phu một mình”. Ảnh: Boris Lojkine

Suốt bao nhiêu năm, từ ngày lấy chồng đến nay bà Tiếp vẫn giữ thói quen nghe đài. Chiếc đài, cùng với đứa con gái bé bỏng đã tiếp nghị lực sống cho bà. Và những năm tháng chăm con nuôi, đợi chồng, bà nghe được biết bao mục liên quan đến các liệt sĩ. Bà cũng nghe được bài hát của nhạc sĩ Lê Thương, và nhớ nhất đoạn: “Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về/ bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề/ người tung hoành bên núi xa xăm/ người mong chồng còn đứng bao năm.” Có lần, không cầm lòng được, nhìn lên di ảnh chồng, bà thốt lên: “Anh ơi, giá mà em hóa đá được, thì em mới nguôi nhớ. Anh bảo em phải làm sao?”.

Anh ở đâu

Năm 2005, đồng đội cũ, thủ trưởng cũ của chồng về thăm, có hỏi bà Tiếp nguyện vọng. Bà chỉ xin: “Cho em được trở vào thăm chiến trường, nơi chồng em chiến đấu và thăm nghĩa trang. Không tìm được mộ chồng, em chỉ xin nắm đất trong đó mang về thờ”. Nguyện vọng của bà được chấp thuận ngay. Cùng đi với đoàn có đạo diễn trẻ người Pháp Boris Lojkine. Tính từ năm đó, chiến tranh đã lùi xa 30 năm, và rất nhiều mộ quy tập ở nghĩa trang Hải Lăng (Quảng Trị) không tên. Bà thắp nén hương nghi hút rồi ngất đi vì khổ tâm. Sau khi tỉnh dậy, bà chắp tay khấn bằng việc tung đồng tiền cổ: “Nếu anh ở đây thì báo cho em, bằng âm - dương - sấp - ngửa...”. Nhưng những đồng tiền không giúp được bà.

Trở về cùng với nắm đất, nơi chồng ngã xuống bà vẫn đau đáu một điều, không biết chồng sống chết ở đâu hay đang nằm cùng đồng đội trong lòng đất mẹ, để người vợ ở nhà, người vợ mãi ngóng. Nhưng bà đã gắng gỏi sống để làm chỗ dựa tinh thần cho con gái nuôi.

Tin liên quan